3. Tình tiểu học

Trí nhớ tôi bị mai một nhiều, đa phần những chuyện khi còn bé tôi đã quên gần như hết.

Từ ngày Facebook xuất hiện, thỉnh thoảng tôi lại “gặp” lại những người xưa cũ, những người mà phải hơn chục năm trời tôi không một lần nghĩ tới, ấy vậy mà nhìn hình, nhìn mặt lại nhớ lại chuyện cũ. Năm ấy tôi học lớp năm trường làng, ngôi trường bé tí chỉ có 4 phòng học, là một cơ sở nhỏ dành cho hai thôn Một và thôn Hai. Chỗ tôi ở rõ ràng thuộc thôn Ba, nhưng tất cả bọn trẻ ở xóm tôi đều học ở trường này. Ngôi trường bé tí, quét vôi màu vàng loang lổ, cổng chính là một con đường nhỏ xuyên qua một đám ruộng, có cây xoan ốm nhách, cao leo nghêu, nhưng bọn tôi chỉ toàn đi cổng phụ, nói là phụ nhưng lại rộng mênh mông vì nó giáp với đường lộ.

Ngồi trước tôi là Qui và Thử, Thử tính tình hơi dữ, hay to tiếng nạt nộ mấy đứa khác thành ra nó chết tên Bà chằn lửa. Thằng Qui thì da dẻ trắng hồng hơn hẳn so với những đứa trẻ chân quê khác, mặt nó lại tròn mũm mĩm trông rất đáng yêu. Tôi có thinh thích nó chút chút, chắc nó cũng vậy. Vì có lần má cấy lúa sau nhà, tôi mon men ra làm thử, đúng hôm đó bọn con trai trong lớp kéo vô nhà tôi chơi, tụi nó trèo lên cây ổi sẻ kêu réo om sòm, tôi mắc cỡ chẳng thèm vô. Thằng Qui gửi lại tặng tôi một … bức thư tình. Một mặt giấy nó vẽ hình Songoku trong phim Bảy viên ngọc rồng, mái tóc lởm chởm màu vàng chóe, mặt sau nó chép bài hát: Tình cây và đất.

Đất vắng cây, đất cần hơi thở

Cây thiếu đất, cây sống sống với ai

Chuyện trăm năm ân tình cây và đất

Cây bám rễ sâu đất ôm chặt tận đáy lòng…

Bức thơ tình của nó không có một dòng tỏ tình, nhưng tôi cứ hiểu rằng nó ví là đất, tôi là cây, hoặc ngược lại. “Bài hát tình” ấy tôi giữ phải được vài năm trước khi vứt đi, còn cái bài hát đó mãi tới tận lớn lên tôi vẫn không quên. Nhưng mối tình lớp năm chưa kịp tỏ đã lụi tàn, vì bọn tôi phải lên lớp.

Lên lớp sáu, không còn chia ra thành nhiều trường nhỏ khác nhau cho vài ba thôn nữa, mà cả xã nhập chung lại với nhau. Năm đó tôi được miễn thi tốt nghiệp cấp một vì đạt học sinh giỏi, nhưng tới ngày thi tôi cũng lân la lên trường chính cả ngày hòng quăng tài liệu cho bọn bạn nhưng cuối cùng chẳng làm được gì cả, lang thang thơ thẩn cả ngày rồi về. Tôi cũng không chắc kì thi này có ý nghĩa gì, vì tất nhiên chẳng có nhiều sự lựa chọn, chỉ có một trường mà thôi. Lên cấp hai còn sướng hơn nhiều so với cấp một, vì đường đi học đã gần nay lại chỉ còn một nửa, đi bộ chỉ chừng mươi, mười lăm phút. Thế nhưng thỉnh thoảng tôi lại thấy ghen tỵ với cái thẳng nhỏ nhà ngay đầu ngõ trường lắm, vì nó gần hơn nhiều. Các bạn thời tiểu học của tôi phân tán gần hết vào 6 lớp, trộn chung với bọn trẻ ở những thôn khác về, thành ra tình yêu tiểu học bị chia cách, rồi tôi nghe đồn thằng Qui nó thích con bé Hà cùng lớp nó, thế là thôi, tan một chuyện tình.

* Tên các nhân vật đã được thay đổi chút xí để đảm bảo tính … bảo mật

 

Advertisements

2. Lớp một ơi lớp một

Năm tôi vào lớp Một là một năm buồn trong kí ức trẻ con của tôi. Tôi có nhiều trải nghiệm mới, cuộc sống mới, cũng có nhiều cái rất thú vị, nhưng buồn vì phải xa ba má. Ba má mới sinh em, tôi nghe kể cuộc sống khó khăn lắm, ba tôi làm công an, phải đi trực đêm và công tác xa nhà liên miên. Lương công an bèo bọt, chắc chỉ đủ nuôi thân ba là chính, thành ra má cán đán hết, một mình xoay không xuể đành phải đưa tôi về ở với Nội. Má kể, đêm nào má cũng chong cây đèn dầu lên bàn rồi ngồi khóc nức nở vì nhớ con.

Nhà tôi có một chiếc xe cánh én, xe mua lại của người ta, nhưng nhìn rất bóng bẩy đẹp đẽ. Cứ vài hôm một lần, ba chở má về nội thăm tôi. Thời đó xe máy ít, mỗi lần nghe tiếng máy xe nổ phành phạch tôi làm gì thì cũng vứt đấy phóng cái vèo ra trước sân đứng ngóng, coi phải ba má về thăm không. Tôi không nhớ cái cảm giác vui sướng khi gặp ba má. Kì lạ thật, kí ức chỉ lựa cái buồn hay sao ấy, tôi chỉ nhớ cảm giác đứng ngóng ba má một ít, còn nhớ nhiều nhất vẫn là những lúc ba má chia tay ra về, để tôi lại. Tôi bám vào bậu cửa, giấu một mắt, một mắt dòm theo, nước mắt tuôn như mưa.

Tôi ở với nội một năm.

Nhà nội bây giờ không còn giống ngày xưa nữa, thậm chí vị trí cũng khác luôn. Nội mất, chú Bảy tôi xây cái nhà mới ra hẳn phía trước, sát con đường chạy ngang nhà. Tôi thích cái nhà hồi xưa hơn, hẳn là thế rồi, vì nó có nhiều kỉ niệm. Đó là một căn nhà ba gian xây gạch, tô vữa nhưng không sơn, có hàng dừa lửa phía ngõ, một bên chú tôi dựng cái chái lớn thành một căn nhà riêng gia đình chú tôi ở, ra nữa là cái bếp và cái chuồng heo, cầu tiêu cách hẳn ra một quãng để tránh mùi hôi. Thời ấy, cầu tiêu nhà quả là một nỗi ám ảnh, vì nó nằm phía sau chuồng heo, lại cách xa nhà, không đèn điện gì hết. Thế nhưng so với nhà cô tôi cách đó không xa thì nó lại là một thứ xa xỉ, vì nhà cô tôi nhiều năm còn chẳng có cầu tiêu luôn. Chắc tôi cũng nên tả một tí cái cầu tiêu ở quê thời ấy. Nó là một cái hố xây gạch vuông vứt, trên miệng hố gác một tấm bê tông cốt thép có khoét một cái lỗ tròn ở giữa, hai bên lỗ có hai cái để chân cao hơn tí. Đi cầu thì nhắm vào lỗ mà đi, xong rắc tro bếp lên cho hoai phân và giảm mùi, rồi đặt cái nút cũng bằng bê tông nút cái lỗ ấy lại. Nhà tôi cũng là kiểu cầu này thôi, nhưng sang hơn là nó có … hai lỗ và điện sáng choang nên ngày hay đêm tôi cũng không sợ mấy. Nhà cả hai cô tôi thì cứ cầm cuốc mà đi ra vườn sắn, đỡ phải bón phân cho cây luôn.

Tính ra thì nhà nội là ở quê, còn nhà tôi đỡ quê hơn chút. Chỗ tôi có đường quốc lộ chạy ngang nên tấp nập buôn bán, từ quốc lộ lên quê nội tôi phải mất gần nửa tiếng chạy xe máy trên đường đất đỏ, lại ở gần mấy ngọn đồi, núi nho nhỏ, thành ra quê hơn. Má tôi gọi đó là cái xứ chó ăn đá gà ăn muối, vì đất đai toàn sỏi be bé, chẳng như ở chỗ quê ngoại tôi được phù sa sông bồi đắp nên màu mỡ hơn. Thế cho nên, đối với chị em tôi, quê nội quả là quê nội, rất quê, rất tuyệt. Nội dùng cái nhà ba gian giữa ấy làm nhà chính, gian giữa là bàn thờ, gian bên trái là bàn ăn, kê giường ngủ ở gian còn lại. Còn phía bên kia của căn nhà, nội dựng một cái chái nhỏ làm bếp, vách phên trét đất sét, tôi nhớ nó mới hay ho đẹp đẽ làm sao, lớp đất sét lấy từ trên núi, có màu vàng đỏ rực rỡ, thời ấy thì nghèo mới làm vậy, chứ bây giờ thì chỉ có resort cao cấp mới có kiểu kiến trúc ấy. Nội và nhà chú ăn riêng, tôi sống cùng bà, ăn cùng bà, thỉnh thoảng nhà chú có gì ngon thì tôi cũng được gọi qua cho một miếng. Bà nội là thương binh và có chồng là liệt sĩ nên nội có những khoản trợ cấp hàng tháng, ngoài ra nội còn nuôi vài con heo trong chuồng, vài con gà thả rông, ruộng lúa trước nhà và ruộng hoa màu kế bên, ở đó nội xoay vòng trồng đủ thứ, nào là đậu phộng, đậu xanh, đậu đen, khoai lang hoặc sắn, hoặc mè. Thế nhưng chắc là nội nghèo, hoặc nội sống nghèo quen rồi, nên bà tằn tiện chắt chiu lắm. Thỉnh thoảng nội nấu cơm độn khoai và sắn khô, tôi thích lắm, đến sau này lớn lên tôi mới biết ngày xưa người ta không đủ gạo ăn mới độn, chứ hồi đó thì tôi tưởng phải sang lắm mới có mấy thứ ấy để độn, vì nó rất ngon và nhà tôi thì không có. Thỉnh thoảng hết thức ăn nội lại làm món nước mắm kho quẹt, nó không giống món kho quẹt miền Nam tí nào cả.  Cái món ấy ngon tuyệt vời, chị em tôi cứ thòm thèm mãi, sau này lớn lên vẫn cứ nhắc đi nhắc lại, cũng có thử làm nhưng không thể ngon như nội. Nội dùng một cái nồi thiếc cũ, thời sau này toàn nồi inox thì không làm được vì sẽ cháy đáy nồi đen kịt làm hỏng nồi, xung quanh nồi lọ nghẹ (lớp màu đen) bám đen kịt, mắm pha với chút đường, chanh, tỏi ớt, rồi cho vào nồi rang đến hơi khô đi. Tôi ghiền nhất là cái lớp khô queo bám sát đáy nồi, cứ dùng muỗng quẹt một phát rồi và miếng cơm nóng, cho nên tụi tôi gọi nó là mắm kho quẹt. Tới lúc gần hết thì cho luôn cơm vào đấy trộn chung. Cái món nhà nghèo ấy mà mỗi lần có đó là tôi đánh bay luôn nồi cơm, khi em tôi lớn, mỗi lần chị em về thăm nội đều nhõng nhẽo nội ơi nội, nội làm kho quẹt đi.

Số tôi may mắn trong đường học vấn, may ở chỗ trường nào cũng gần nhà, về quê nội đi học trường chỉ cách chừng hai trăm mét, đi bộ thơ thẩn la cà bắt bướm cũng chỉ mất năm phút là cùng. Chú bảy nuôi bò, cái chuồng bò to đùng, trống hoang hoác ngay phía trước cái chái nhà chú, tôi rõ có nhớ mình dắt bò đi ra khu nghĩa địa thả bò gặm cỏ, vì tôi nhớ đinh ninh tôi và chị Thủy em gái thím tôi hay chơi trò bán cá với nhau ở đó. Bọn tôi lấy cái mũ vành có dây đeo, lật ngửa cái mũ ra làm cái cân, hái lá làm cá. Thế nhưng sau này khi tôi nhắc lại thì chú tôi nổi giận đùng đùng gạt phắt đi: Làm gì có, mày nói thế hóa ra tao hành hạ bắt mày đi chăn bò à!? Cũng có thể tôi chỉ dắt bò ra đồng một hay hai lần gì đó thôi. Nhà nội không giàu nhưng có cái sân gạch láng xi măng rất khang trang, đó là chỗ nội tôi phơi đủ thứ hoa màu. Bên góc sân là cây vú sữa chẳng bao giờ có trái, nhưng bù lại nó cho bóng mát, trưa nào tôi cũng vắt vẻo trên cái võng mắc một đầu trên thân cây vú sữa, đầu kia thân cau, đung đưa hát hò rồi ngủ quên mất, tỉnh dậy khát nước tôi sà lại cái giếng sát bên vục gàu xuống lấy nước lên uống trực tiếp từ gàu. Tôi nhớ mãi cái vị nước ở giếng đó, trong lành, mát rượi, ngọt sớt, tôi chưa từng uống nước ở đâu ngon như ở cái giếng nhà nội, hẳn là ngon lành hơn nước máy nhiều, hàng xóm thỉnh thoảng lại xách đòn gánh qua xin nước quẩy về, ấy vậy mà khi nước máy xuất hiện, cái giếng cũng bị dẹp qua một bên không dùng tới nữa. Cái sân đó, tối tối khi ăn cơm xong, nội và tôi hay xách cái ghế dài ra trước sân ngồi hóng gió và nghe đài, đài ở đây là cái loa phường đấy, ở Hà Nội bây giờ vẫn còn, dân tình rất ghét, nhưng thời ấy, ở quê nghèo, tivi không có, cái món giải trí duy nhất là cái loa ấy từ xa vọng lại, sáng sáng, tối tối. Nội lúc nào cũng kè kè cái quạt cắt từ mo cau phe phẩy đuổi muỗi, tôi cũng được nội lựa cái mo cau đẹp nhất, cắt cho một cái be bé xinh xinh, hai bà cháu cứ ngồi phe phẩy. Mo cau là món đồ chơi yêu thích của bọn trẻ chúng tôi. Tôi có một đứa bạn bằng tuổi kế bên nhà, bọn tôi hay sang nhà nhau chơi, nhưng nhà nội tôi thì thích hơn vì có cái sân sang trọng ấy. Mo cau rất chắc, một đứa ngồi lên ấy, một đứa nắm lấy tàu lá mà kéo, rồi diễn đủ mọi hoạt cảnh. Chơi chán, bọn tôi xách cái quéo ra sau nhà hái bồ quân. Quéo là một cái giống cái liềm, được cột ở đầu một cây tre dài, người ta dùng giật chuối, giật dừa ở trên cao. Sau nhà nội là một cái sân đất rợp bóng mát của cây bồ quân thân đầy gai chi chít, trái trĩu cành, góc sân là cây xoài to đùng, nhưng tôi nhớ nó chỉ cho đúng một quả vào một mùa nào đó rồi tịt hẳn, cô tôi bảo là trồng nhầm cây xoài đực rồi. Cuối sân là bụi tre rậm rạp, cái bụi này không lớn như hàng tre ven sông gần nhà ngoại tôi, nhưng cũng đủ để cho nội kiếm đủ củi từ cành tre khô, bẹ tre, lá tre rụng đầy, thiếu thì nội bước ra mấy bước, lá tràm khô, lá bạch đàn, chỉ quơ vài cái là nội có đầy một cái giỏ tre cành lá khô để nấu bếp. Những thứ này nội không dùng cho cái bếp nằm trong chái nhà mà để ở ngoài dùng nấu cám heo. Nhiều hôm sáng sớm tôi giật mình thức dậy không thấy nội kế bên, tôi sợ không dám ngủ tiếp mà đi kiếm nội, lần nào cũng như lần nấy, tôi thấy nội ở phía sau hè, tay cầm cái gậy nhỏ lùa đám lá khô vào cái kiềng ba chân dưới cái nồi cám heo to đùng, mắt nhìn chằm chằm vào ngọn lửa đang reo. Tôi lấy cái đòn (cái ghế nhỏ chỉ cao chừng bảy đến tám phân, đóng bằng gỗ) tới ngồi sát bên nội, lùa lùa đám lá vào ngọn lửa bùng bùng vui mắt kia…